KIẾN TRÚC

Trang web nghiên cứu về kiến trúc

Kiến Trúc Hậu Hiện Đại 1974-2000

Posted by kientruc on Tháng Mười Một 9, 2007

KIẾN TRÚC HẬU HIỆN ĐẠI 1974-2000

Vào tháng 6 năm 1973, khi các đơn vị kỹ thuật của quân đội Ai Cập vượt kênh đào Suez và xâm lược sa mạc Sinai, họ đã bắt đầu thời kỳ hậu – Hiện Đại. Trong một giai đoạn phát triển đầy những sự kiện gắn liền với việc giá dầu lửa vùng Arab tăng 5 lần và sự thiếu nhiên liệu ở Mỹ, … đã gây ra khủng hoảng kinh tế làm đảo ngược những nền kinh tế mạnh của Thế Giới Phương Tây. Và gắn liền với nó là việc cắt giảm chi tiêu của Chính phủ vào kiến trúc mang tính xã hội đang được duy trì trong quãng thời gian gần 30 trước đó.
Bị cắt những những nguồn tài chính từ nhà nước, trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Kiến Trúc Hiện Đại trở nên mất tiếng nói và đối mặt với tương lai không rõ ràng. Mặc dù nổi lên từ Chiến Tranh Thế Giới Thứ 2 như là biểu tượng duy nhất của qui hoạch, phúc lợi xã hội và nền dân chủ, và với sự cần thiết trong việc xây dựng lại những thành phố bị tàn phá, Kiến Trúc Hiện Đại đã không thể tồn tại mà không có nguồn vốn xuất phát từ những ủng hộ tư tưởng xã hội của nó.
Khi những chính phủ phương Tây cắt bỏ chi phí để giảm thâm hụt ngân sách, và quay lưng lại với phúc lợi xã hội, kiến trúc phục vụ phúc lợi đã thể hiện sự dễ dàng suy sụp một cách đáng ngạc nhiên. Về mặt thời gian, sự sụp đổ này là để dẫn đến giai đoạn thứ ba, và cũng là cuối cùng của kiến trúc trong thế kỷ 20 trong hình dáng mới với tên gọi thời kỳ hậu – Hiện Đại.
Con đường đầu tiên và quan trọng nhất để thoát khỏi con tầu đắm của Chủ Nghĩa Hiện Đại là học cách từ bỏ những nguyên tắc tuyệt đối của quá khứ. Ý này được diễn đạt một cách xúc tích trong một bài chính của tờ The Times được xuất bản năm 1981: “Điều mà một toà nhà cần nhất để dành được tình cảm của công chúng là phải tồn tại một thời gian dài. Điểm này thì khó mà đạt được với sự xây dựng mới”. Đúng là khó, nhưng không phải là không thể. Vào giữa những năm 1980 phong trào văn hoá Di Sản mới đã có được tiếng nói. Những nhóm quan sát tình nguyện được tổ chức theo một hệ thống chặt chẽ có được đại diện ở những cấp cao nhất trong Chính phủ.
Ở nước Anh có 20000 kiến trúc sư, rất nhiều trong số này được đào tạo trong những năm 60 khi họ được dạy rằng nhiệm vụ của họ là thiết kế “bề mặt có tổ chức và mới trên trái đất”, đã từ bỏ những kế hoạch cũ của họ và không hề phản ứng lại. Tính tổng cộng những tổ chức bảo tồn này đã tiêu hàng trăm triệu bảng Anh cho việc phục chế và sửa chữa. Bên cạnh đó, có một thế hệ các kiến trúc sư mới đang bắt đầu trưởng thành đã sẵn sàng cho việc thiết kế theo những nguyên tắc của kiến trúc Cổ Điển, như thể là Cách Mạng Công Nghiệp và Phong Trào Hiện Đại chưa từng diễn ra. Nếu ban đầu là vẫn mang tính bị động, nhưng ngay khi có sự hợp tác một cách chủ động với thể chế của những người bảo thủ, đã hình thành sự phát triển phong cách Hậu Hiện Đại mới trong thiết kế. Sự nhanh chóng trở thành một “phong trào” của xu thế này thì không phải là kết quả từ việc hành nghề kiến trúc. Mà nó hình thành từ những nghiên cứu, và những giảng đường ở các trường kiến trúc mà ở đó các nhà tư tưởng kiến trúc ngày nay bị thúc bách để “phát minh” ra những phong trào để thăng tiến nghề nghiệp. Việc này không khác gì việc những người thợ mỏ và thợ đánh cá thăng tiến dựa vào số lượng sản phẩm. Ngày bắt đầu của chủ nghĩa hậu – Hiện Đại trong kiến trúc thì không thật rõ ràng. Một số tin tưởng rằng nó được báo trước với hàng cột Cổ Điển đỡ sảnh được thiết kế bởi Berthold Lubetkin (1900-1991) cho khu căn hộ “Highpoint” ở London năm 1938. Khu căn hộ này, ngoài hàng cột cổ điển ra, thì đúng là hiện đại đến hết mực. Nhưng những nhà lịch sử kiến trúc hàng đầu không đồng ý với cách nhìn này. Nikolaus Pevsner, viết năm 1966, đã cho rằng toà nhà Royal College of Physicians thiết kế bởi Denys Lasdun ở Regent Park là công trình hậu hiện đại đầu tiên. Charles Jencks, một nhà phân tích phong cách hậu hiện đại thuyết phục nhất, đã cho rằng hậu – Hiện Đại bắt đầu khi Chủ Nghĩa Hiện Đại chấm dứt trong năm 1977. Theo cách nhìn của Jencks, nó bắt đầu với sự phá bỏ dự án nhà ở cao tầng Pruitt Igoe ở Saint Louis nổi tiếng về những tệ nạn xã hội vào tháng 15 tháng 7 năm 1972. Sự khác nhau về ngày bắt đầu của Hậu Hiện Đại này cũng là một đặc điểm. Theo một vài cách nhìn, nó giống như những nghi ngờ vẫn còn về tính nguyên bản, vấn đề mà đã ám ảnh rất nhiều những bức tranh nổi tiếng thế giới.
Theo trường hợp nào đi nữa, những triển vọng cho hậu – Hiện Đại trong kiến trúc được đồng ý thống nhất một cách nhanh hơn là nguồn gốc của nó. Một số kiến trúc sư theo trường phái Hậu – Hiện Đại đã thể hiện sự nhanh nhậy trong việc thu hút sự ủng hộ của công chúng và khách hàng, và tiếp tục nhận được những dự án lớn: đáng chú ý là James Stirling, Micheal Graves và Terry Farrell. Nhưng một số khác dường như đã không thể làm hài lòng với những người lãnh đạo đầy quyền lực và càng ngày càng có sự phân biệt của sự bảo tồn và vận động cho sự phục hưng Cổ Điển. Đối với những nhân vật này, những không gian xây dựng như là một viện bảo tàng cho những toà nhà Georgian đan xen với những công viên khoa học công nghệ cao là sản phẩm bán được. Sự hoài cổ trong thiết kế hậu – Hiện Đại có thể đi xuống đến mức mà thậm chí một nhà phê bình hiểu biết nhất nhìn thấy không một sự phản đối nào đối với những đầu cột Corithian và tường gạch lớn đứng cạnh nhau ở trong cùng một kết cấu – hoặc là “nhiều cửa sổ Venetian hơn toàn bộ Vicenza” như là Philip Johnson (6) đã nói một cách tự hào về tổ hợp International Place khổng lồ ở Boston. Nhưng để cuối cùng, kẻ thù lớn nhất của hậu – Hiện Đại trong kiến trúc không phải là tương lai mà chính là quá khứ. Trong toà nhà, như là được kịch hoá trên TV, những khán giả với niềm hoài cổ thì thích những bản sao giống hệt từ những công trình cổ điển. Cổ Điển Phục Hưng và chủ nghĩa Hậu Hiện Đại là hai con đường trốn chạy từ chủ nghĩa Hiện Đại: con đường thứ ba là “ Kỹ Thuật Cao (High Tech)”. Thuật ngữ này có nguồn gốc là cách mô tả cho những trang trí nội thất dựa trên sự sử dụng những hình ảnh lớn có màu sắc sặc sỡ được sơn lên tường, bánh xe ô tô hợp kim dùng làm bàn, đèn công nhiệp và trang trí kiểu nhà kho, và các đồ dùng không mang tính gia đình ở Mỹ vào giữa những năm 1970s. Sau đó, thuật ngữ này đã vượt Đại Tây Dương để mô tả kiến trúc với cấu trúc mang tính biểu hiện cao và nhẹ nhàng. Nó đã nối tiếp phong cách sử dụng khung thép nặng nề của Mies van der Rohe. Nổi bật ở Anh bởi CLASP (7) hệ thống trường học tiền chế, kiến trúc này lúc đầu cũng được gọi là “Hiện Đại”. Nhưng với sự gia tăng trong việc sử dụng các hợp kim nhẹ và bền, và những bộ phận composite, thuật ngữ mới “Kỹ Thuật Cao” dường như thích hợp hơn. Hơn thế , cái tên mới này không bị ảnh hưởng bởi sự thất bại của chủ nghĩa Hiện Đại. Một lần nữa việc xác định ngày chuyển giao từ kiến trúc hiện đại sang “Kỹ Thuật Cao” là khó khăn. Một cái nhìn thoáng qua vào siêu cấu trúc của bất kỳ tầu chiến nào của thế kỷ 20 đều có hình ảnh của clip-on modules của một dàn khoan dầu, và cũng như vậy, có hình ảnh mái của nhà máy Inmos (8) thiết kế bởi Richard Rogers, nếu mà không phải là những tháp phục vụ của toàn nhà Lloyd.
Cũng như thiết kế siêu cấu trúc của tầu chiến, giống như cây cầu của tầu chiến HMS Belfast (1938), với những bề mặt sau hoàn thiện được để trần và để lộ sàn phục vụ, giống với nhiều công trình thuộc trường phái “Kỹ Thuật Cao”. Người đầu tiên của phong trào này có thể là Gunnar Asplund (9), với những cấu trúc nhẹ cho triển lãm Stockholm năm 1930, hay là những công trình tạm với những cấu trúc kiểu cột buồm thiết kế bới Geore Fred Keck ở trong những năm trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai.
Nói chung, được xem như là phong cách đại diện của Chủ Nghĩa Hiện Đại, kiến trúc “Kỹ Thuật Cao” đã có một ví trí khá đặc biệt. ở Anh, nó gắn liền với những công trình của Sir Norman Foster (10), Sir Richard George, Nicholas Grimshaw và một số kiến trúc sư trẻ khác. Vào những năm 1980, thành công của những kiến trúc sư này đã dẫn đến việc kiến trúc “Kỹ Thuật Cao” được nghĩ như là “Phong Cách Anh”.
Xem xét hết những điểm trên, có thể là đúng khi nói rằng thời kỳ Hậu Hiện Đại, ở thời đại hiện tại, được đánh dấu bởi sự đa dạng, không phải là sự duy nhất, như những năm truớc 1914, hay là sự đối chọi, như những năm giữa hai cuộc chiến 1919 – 1939. Không có một lý thyết duy nhất cho thời kỳ hiện tại. Như là cái tên của nó đã ngụ ý một phần nào đó, thời kỳ Hậu Hiện Đại của chúng ta là một thời kỳ mà trong đó tất cả những xu thế trước đây cùng tồn tại (một cách không dễ dàng). Cuối của thế kỷ 20, đã có thể nhận diện được một hệ tư tưởng khác với tiềm năng có tầm ảnh hưởng như Phong Trào Hiện Đại. Hệ tư tưởng này là một lý thuyết đang phát triển, cho tới nay vẫn chưa có một cuộc tranh luận có giá trị.
Hình dáng kiến trúc nên xuất phát từ sự hoà mình với những điều kiện bắt buộc về môi trường và động lực mang tính toàn cầu mà quyết định sự sinh tồn của loài người, chứ không phải là từ quá khứ hay là công năng. Hiện tại, những hình thức kiến trúc từ những ảnh hưởng nói trên, hoặc những lời phát ngôn mang tính tư tưởng về mặt định nghĩa sẽ tiếp tục không rõ ràng.                                        

Theo tạp chí Kiến Trúc tháng 12 năm 2005                                                                                                  

Nguồn: http://www.hoiktsvn.org/text.php?idp=&new=28&&view=188

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.